Thứ Năm, 8 tháng 12, 2011

Đã thỏa thuận tài sản ly hôn còn có thể tranh chấp không?

"Chúng tôi ly hôn với thỏa thuận tôi giao cho anh ấy một số tiền để tự lo chỗ ở. Trong thời gian trước mắt anh ấy phải chuyển tư cách từ chủ hộ sang tạm trú tại nhà tôi. Tôi xin hỏi thỏa thuận có cần chữ ký các con không? Anh ấy có thể tranh chấp nhà với tôi không? Và tôi có quyền yêu cầu anh ấy ra khỏi nhà bất cứ lúc nào không?" (bạn đọc Ha Thanh Huyen).

Trả lời:

1. Trường hợp con chung của hai người đã thành niên, có công sức trong việc tạo dựng tài sản trong gia đình thì thỏa thuận tài sản giữa hai người cần phải có chữ ký của các con. Để giấy thỏa thuận phân chia tài sản có giá trị pháp lý, bạn cần lấy xác nhận của công chứng hoặc chứng thực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (như tòa án).

2. Với thỏa thuận trên, đôi bên không còn cơ sở để tranh chấp tài sản nữa. Việc chuyển tư cách từ chủ hộ sang tạm trú không liên quan đến vấn đề sở hữu. Giấy đăng ký tạm trú có thời hạn 12 tháng, khi hết hạn có thể gia hạn.

3. Bạn có quyền yêu cầu anh ấy ra khỏi nhà nhưng không phải bất cứ khi nào, vì còn phụ thuộc vào thời hạn đăng ký tạm trú mà anh ấy đã đăng ký cũng như hoàn cảnh thực tế, khả năng thu xếp chỗ ở mới của anh ấy.

Luật sư Phạm Thanh Bình

Văn phòng Luật sư Hồng Hà,

số 8 Đình Ngang, Hà Nội.

Đăng ký tài sản chung của vợ chồng

"Vợ chồng tôi mua nhà, nhưng giấy tờ chỉ ghi tên chồng. Vậy có đúng không, có ảnh hưởng đến quyền lợi của tôi không?" (bạn đọc Nguyen Thi Hoa).

Trả lời:

Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình 2000 quy định: "Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ chồng". Những tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng khi đăng ký quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ và chồng bao gồm: nhà ở, quyền sử dụng đất và những tài sản khác mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu (ôtô, môtô, tàu thuyền…).

Việc đăng ký các tài sản, quyền tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng phải ghi tên của cả vợ và chồng theo quy định nói trên được thực hiện từ ngày 18/10/2001 - ngày Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 03/10/2001 của Chính phủ có hiệu lực.

Như vậy, nhà của vợ chồng bạn đăng ký sau thời điểm đó mà chỉ ghi tên một người là sai. Bạn có thể yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp lại giấy tờ đăng ký quyền sở hữu tài sản đó với tên của cả vợ và chồng.

Cũng cần hiểu kể cả trường hợp giấy đăng ký sở hữu chỉ ghi tên một bên, tài sản đó vẫn thuộc sở hữu chung của vợ chồng. Nếu có tranh chấp, bên nào cho đó là tài sản thuộc sở hữu riêng của mình phải có nghĩa vụ chứng minh.

Luật sư Phạm Thanh Bình ,

Văn phòng Luật sư Hồng Hà,

số 8 Đình Ngang, Hà Nội.

Thứ Năm, 1 tháng 12, 2011

Pháp luật bảo vệ quyền của người sử dụng đất ổn định lâu dài

"50 năm trước, bác cho bố mẹ tôi một thửa đất nhỏ, đôi bên không có giấy tờ, bút tích nào. Bố mẹ tôi đã xây nhà sống ổn định từ đó đến nay. Mới đây con bác tôi kiện đòi lại. Vậy có đúng không? (bạn đọc Dao Nhat Nam).

Trả lời:

Một nguyên tắc quan trọng trong tố tụng dân sự là người khởi kiện phải có nghĩa vụ chứng minh yêu cầu của mình trước tòa án. Do vậy nếu anh họ của bạn không có bất kỳ giấy tờ, tài liệu nào chứng minh mảnh đất đó là của họ thì về nguyên tắc, tòa án sẽ bác yêu cầu của bên khởi kiện.

Tuy nhiên, bạn là người bị kiện cũng cần có giấy tờ chứng minh việc mình đã sống ổn định, liên tục ở đó mấy chục năm qua, không có tranh chấp gì với gia đình bên bác.

Cũng cần lưu ý, Luật Đất đai cũng như Bộ luật Dân sự quy định rõ nguyên tắc giải quyết tranh chấp đất đai, nhà ở là phải bảo vệ lợi ích chính đáng của người đã sử dụng đất ổn định, liên tục, lâu dài. Vì vậy nếu bạn chứng minh được các điều trên, quyền lợi hợp pháp của gia đình sẽ được bảo vệ.

Luật sư Phạm Thanh Bình

Văn phòng Luật sư Hồng Hà,

số 8 Đình Ngang, Hà Nội

Muốn khởi kiện dân sự làm thế nào?

"Tôi và một người khác đang tranh chấp đất đai và công nợ. Nay muốn đề nghị tòa xét xử thì thủ tục thế nào" (bạn đọc Hồng Nga).

Trả lời:

Theo Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, muốn khởi kiện một người ra tòa, người khởi kiện (nguyên đơn) phải làm đơn kiện gửi tới tòa, kèm theo các tài liệu chứng minh cho nội dung khởi kiện. Ví dụ, kiện đòi nợ thì kèm theo đơn phải là giấy biên nhận tiền, thanh toán nợ, lãi...

Tòa án có thẩm quyền thụ lý là TAND quận, huyện nơi cư trú của người bị kiện, hoặc TAND tỉnh, thành phố (nếu có yếu tố nước ngoài). Sau khi xem xét đơn khởi kiện, tòa án báo cho nguyên đơn nộp tạm ứng án phí và thụ lý vụ kiện. Thời hạn đưa vụ kiện ra xét xử tối đa là 6 tháng kể từ ngày thụ lý đơn khởi kiện.

Luật sư Phạm Thanh Bình

Văn phòng Luật sư Hồng Hà,

số 8 Đình Ngang, Hà Nội

Thứ Tư, 30 tháng 11, 2011

Điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

"Điều kiện để được cấp sổ đỏ? Tôi có giấy phân nhà, đất từ 20 năm nay nhưng chưa có sổ đỏ. Nay khu nhà rơi vào quy hoạch, tôi sẽ được đền bù thế nào?" (bạn đọc Nguyễn Xuân Nam).

Trả lời:

I. Theo Điều 10 Nghị định số 60/CP ngày 5/7/1994 của Chính phủ về quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại đô thị, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại nội thành, nội thị xã, thị trấn (thường được gọi là sổ đỏ) được xét cấp như sau:

1. Trong trường hợp chủ nhà có các giấy tờ hợp lệ do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, hoặc Nhà nước CHXHCN Việt Nam cấp, thì chủ nhà được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở;

2. Trong trường hợp chủ nhà có các giấy tờ hợp lệ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp, nếu nhà, đất này không có tranh chấp, không thuộc diện đã giao cho người khác sử dụng do thực hiện các chính sách của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, hoặc Nhà nước CHXHCN Việt Nam, thì chủ nhà được xét cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở;

3. Trong trường hợp chủ nhà không có hoặc có đủ giấy tờ hợp lệ trước ngày ban hành Nghị định này:

a) Chủ nhà hoàn toàn không có giấy tờ hợp lệ:

a1. Nếu nhà ở và đất ở phù hợp với quy hoạch, không có tranh chấp, thì chủ nhà được xét cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở. Chủ nhà được cấp giấy chứng nhận phải nộp tiền sử dụng đất ở.

a2. Nếu nhà ở xây dựng trên đất không được quy hoạch là đất ở thì chủ nhà không được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở. Chủ nhà phải thực hiện lệnh giải toả nhà và lệnh thu hồi đất của nhà nước.

b) Nếu chủ nhà có giấy tờ hợp lệ về quyền sử dụng đất, xây nhà không có giấy tờ hợp lệ nhưng nhà ở, đất ở hiện phù hợp với quy hoạch, không có tranh chấp, thì được xét cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở.

c) Nếu chủ nhà xây dựng nhà có giấy phép trên đất phù hợp với quy hoạch đất ở nhưng chưa có giấy tờ hợp lệ về quyền sử dụng đất, không có tranh chấp, thì được xét cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở của phần nhà đó. Chủ nhà phải nộp tiền sử dụng đất ở.

d) Mọi trường hợp có tranh chấp thì việc cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất ở chỉ được xem xét khi đã giải quyết xong tranh chấp theo luật pháp.

II. Nếu nhà của bạn ở vào khu quy hoạch thì giá đền bù sẽ căn cứ vào vị trí cụ thể của lô đất, vào tính chất, quy mô của dự án... nên chúng tôi không thể trả lời chi tiết cho bạn được.

Luật sư Phạm Thanh Bình

Văn phòng Luật sư Hồng Hà,

số 8 Đình Ngang, Hà Nội

Chia thừa kế khi cha đã mất để lại vợ bé không hôn thú

"Cha tôi có 2 vợ, một có hôn thú là mẹ tôi, có 5 người con; bà hai không hôn thú, sinh 6 người con, trong giấy khai sinh để trống phần cha. Cha tôi mất 14 năm trước không để lại di chúc. Sau đó 9 năm, 3 chị em tôi ra nước ngoài, mẹ tôi cũng đi nơi khác, để ngôi nhà mà cha mẹ tôi đứng tên cho mẹ con bà hai dùng. Căn nhà này được chia thừa kế thế nào? Tranh chấp giải quyết ra sao?" (bạn đọc Le Phuong Lan).

Trả lời:

1. Cha của chị mất cách đây 14 năm, tức năm 1998, và đã có nhiều con, có nghĩa là họ sống với nhau từ trước năm 1986 (thời điểm ban hành Luật Hôn nhân và gia đình). Do vậy dù không có hôn thú, hôn nhân của họ vẫn được thừa nhận là hôn nhân thực tế. Cha chị mất không có di chúc, nên cả hai bà vợ hai cùng 11 người con bình đẳng với nhau trong thừa kế phần di sản của ông để lại.

Ngôi nhà hiện nay theo chị nói giấy tờ ghi đủ tên cha và mẹ chị, có nghĩa là tài sản chung của hai người. Do đó di sản của cha chị để lại là 1/2 ngôi nhà này (phần còn lại của mẹ chị). Phần di sản của cha chị tiếp tục được chia đều cho hai bà vợ và tất cả những người con của ông (tổng cộng 13 người).

2. Thời hiệu khởi kiện thừa kế theo Bộ luật Dân sự là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế (thời điểm cha chị mất). Nhưng theo Nghị quyết 58 về giao dịch dân sự về nhà ở trước ngày 1/7/1991 thì trường hợp của chị nếu khởi kiện ngay thì vẫn còn thời hiệu. Tuy nhiên, theo Nghị quyết này và hướng dẫn của TAND Tối cao, vì vụ việc liên quan đến người Việt Nam định cư ở nước ngoài nên tòa chỉ giải quyết khi người ở nước ngoài có giấy khước từ hoặc nhượng phần được hưởng thừa kế của mình cho người đang ở trong nước.

Luật sư Việt Hà

Đoàn Luật sư Hà Nội

Thứ Ba, 29 tháng 11, 2011

Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai

"Tôi mua lại lô đất của đại diện một công ty môi giới bất động sản, hai bên thỏa thuận bằng giấy viết tay. Nay cũng miếng đất đó, công ty này lại bán cho một người khác, có xác nhận của công an phường. Vậy tôi làm đơn tố cáo việc lừa đảo, bán hai lần một lô đất thì gửi lên đâu?" (bạn đọc Nguyễn Vinh).

Trả lời:

Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai được dựa trên cơ sở đất đó đã có giấy tờ hợp pháp hay chưa.

Nếu đất đã có giấy tờ, như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hoặc đã được UBND quận, huyện xác định là đất được sử dụng hợp pháp, thì khi tranh chấp xảy ra, cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp là TAND quận, huyện.

Nếu đất chưa có giấy tờ hợp pháp, thì khi phát sinh tranh chấp, cơ quan có thẩm quyền giải quyết là UBND quận, huyện nơi có mảnh đất.

Căn cứ vào quy định trên, bạn tự xác định cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của mình. Các dữ liệu đưa ra cần được xem xét kỹ lưỡng, đầy đủ trước khi nêu vào đơn.

AH&Law On Line

Tranh chấp lối đi chung giải quyết thế nào?

"Tôi mua một mảnh đất ở Tây Hồ, UBND phường xác nhận được mở cửa ra lối đi chung của xóm. Nhưng khi làm nhà xong, một hộ trong ngõ đã cản trở, không cho gia đình tôi đi qua ngõ này. Sự việc được chính quyền hòa giải, tôi chấp nhận đóng một khoản tiền để êm chuyện. Tuy nhiên gia đình đó không chịu lập giấy biên nhận. Tôi nên làm gì?" (Bạn đọc Hong An, Hà Nội)

Trả lời:

Theo Bộ luật Dân sự Việt Nam, nhà bạn hoàn toàn được có lối đi. Tuy nhiên, khi mua nhà, bạn cần tìm hiểu xem các gia đình xung quanh phải đóng góp gì cho cơ sở hạ tầng ở đó không. Nếu có, bạn cũng phải tham gia. Trường hợp bạn đã làm tất cả những gì có thể mà người hàng xóm vẫn làm khó dễ thì bạn nên làm đơn yêu cầu UBND phường can thiệp, hoặc lên Công an phường nếu hộ kia gây rối trật tự. Trường hợp gia đình không thỏa mãn với giải quyết của phường, bạn có thể đệ đơn lên UBND quận.

Theo chúng tôi, bạn nên thương lượng với gia đình kia, và nhờ UBND phường trung gian, lập biên bản hòa giải, đôi bên cùng ký. Biên bản ghi rõ số tiền đóng góp là để tu bổ, bảo dưỡng lối đi chung.

AH&Law On line

Tranh chấp nhà ở mà một bên định cư ở nước ngoài

"Bố mẹ tôi còn đủ giấy tờ sở hữu căn nhà ở Lý Tự Trọng (trước là Gia Long), quận 1, TP HCM. Nhưng cả gia đình đã sang định cư ở Mỹ từ trước 30/4/1975. Vậy chúng tôi có thể đòi lại căn nhà này không?" (LS Vu Thien Co, Texas, Mỹ).

Trả lời:

Trong thư bạn không nói chi tiết: ngôi nhà hiện do ai quản lý, sử dụng... nên không thể trả lời cụ thể được. Tuy nhiên, theo Nghị quyết 58 năm 1998, thì tranh chấp về cho mượn, cho ở nhờ nhà ở, mua bán nhà ở, đổi nhà ở, tặng cho nhà ở, thừa kế nhà ở, quản lý nhà vắng chủ phát sinh giữa cá nhân Việt Nam với nhau trước ngày 1/7/1991 sẽ được giải quyết theo hướng các bên tự thỏa thuận theo quy định của pháp luật.

Một số trường hợp đặc biệt (có yếu tố nước ngoài) được áp dụng Nghị quyết 58 để thỏa thuận đòi lại nhà ở:

- Một bên tranh chấp ra định cư ở nước ngoài nhưng nay đã về định cư ở Việt Nam (theo Thông tư liên tịch số 01 ngày 25/1/1999 của TAND Tối cao, VKSND).

- Trường hợp bên tranh chấp đang định cư ở nước ngoài đã khước từ hoặc nhường quyền thừa kế tài sản đó cho người khác (theo hướng dẫn năm 2000 của TAND Tối cao).

Nghị quyết 58 không áp dụng với trường hợp nhà ở đã được Nhà nước trưng dụng, quản lý, cho người khác thuê.

LS Việt Hà , Đoàn Luật sư Hà Nội

Tranh chấp nhà cửa trong nước liên quan đến Việt kiều

"Việt kiều đã nhập quốc tịch Pháp nay về nước và đã nhập hộ khẩu thường trú, tuy nhiên vẫn chưa có quyết định thôi quốc tịch Pháp, chưa có quyết định trở lại quốc tịch Việt Nam thì đã là công dân Việt Nam chưa? Người này đòi quyền sở hữu một căn nhà ở Hà Nội. Giấy tờ nhà từ thời Pháp có giá trị để chứng minh và được giải quyết trả lại nhà không?" (Tran Duc A, DTRAN1@prodigy.net ).

Trả lời:

Về nguyên tắc, một người dù có quốc tịch nước ngoài nhưng chưa thôi quốc tịch Việt Nam (bằng văn bản), vẫn còn CMND, giấy khai sinh, hộ chiếu, sổ hộ khẩu... thì vẫn có quốc tịch Việt Nam. Trường hợp cụ thể của bạn phải có thêm thông tin chi tiết, chúng tôi mới có thể tư vấn được.

Giấy tờ nhà đất từ thời Pháp thuộc vẫn có giá trị. Tuy nhiên trong một số trường hợp cụ thể như nhà này hiện do Nhà nước quản lý, cải tạo, Nhà nước cho người khác sử dụng... thì không thể đòi được.

Luật sư Việt Hà , Đoàn Luật sư Hà Nội

Thứ Hai, 31 tháng 10, 2011

Đối tượng của hạch toán kế toán

Đối tượng nghiên cứu chung của hạch toán kế toán là tài sản và sự vận động của tài sản trong quá trình họat động của đơn vị.

Tài sản của các đơn vị sản xuất – kinh doanh là đối tượng của hạch toán kế toán

1. Phân loại tài sản theo hình thái biểu hiện và tính chất luân chuyển của tài sản

Tài sản lưu động: là toàn bộ giá trị tài sản ( vô hình, hữu hình ) của đơn vị có thời gian luân chuyển ngắn ( thường là một chu kỳ kinh doanh hoặc một năm ) như : tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, nguyên vật liệu, thành phẩm, hàng hóa….
Tài sản cố định (tài sản dài hạn ): là những tài sản của đơn vị có thời gian luân chuyển dài ( thường là trên một năm hoặc lớn hơn mọt chu kỳ kinh doanh ).

2 Phân loại tài sản theo nguồn hình thành:


Việc xem xét tài sản theo nguồn hình thành sẽ cung cấp cho người sử dụng thông tin biết được tài sản của đơn vị được hình thành từ đâu. Từ đó có cơ sở để đánh giá thực trạng tài chính của đơn vị cũng như xác định trách nhiệm của đơn vị đối với việc quản lý và sử dụng số tài sản hiện có, hoàn trả… Theo cách phân loại này tài sản của đơn vị được hình thành từ 2 nguồn: nguồn vốn chủ sở hữu và khoản nợ phải trả.

  •  Nguồn vốn chủ sở hữu: là nguồn vốn của các chủ sở hữu, các nhà đầu tư đóng góp khi mới thành lập doanh nghiệp và được bổ sung thêm trong quá trình kinh doanh. Có thế chia nguồn vốn chủ sở hữu thành các loại sau:
  •  Nguồn vốn kinh doanh: là số vốn mà đơn vị dùng vào mục đích kinh doanh và do các thành viên tham gia thành lập doanh nghiệp đóng góp. Số vốn này có thể bổ sung hoặc giảm bớt trong quá trình kinh doanh.
  •  Lợi nhuận chưa phân phối ( lãi lưu giữ ): Lợi nhuận là phần chênh lệch giữa một bên là toàn bộ chi phí của hoạt động kinh doanh với một bên là toàn bộ doanh thu của các hoạt động kinh doanh. Theo chế độ hiện hành, phần lợi nhuận này được phân phối cho các mục đích: nộp thuế thu nhập cho Nhà Nước, chia cho các bên tham gia kinh doanh, trích lập các quỹ…. Nhưng khi chưa phân phối số lợi nhuận này được sử dụng vào mục đích hoạt động sản xuất – kinh doanh và được coi như một nguồn vốn chủ sở hữu.
  •  Nguồn vốn chuyên dùng: là nguồn vốn được quy định cho mục đích chuyên dùng nhất định như dùng cho xây dựng cơ bản, dùng để khen thưởng, dùng cho phúc lợi công cộng….. đây là số nguồn vốn có gốc từ lợi nhuận để lại hay được cấp phát, viện trợ, bổ sung….
  •  Nguồn vốn chủ sở hữu khác: là nguồn vốn có nguồn gốc hình thành từ tài sản của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh do nguôn nhân khách quan tạo ra như giá cả biến động, tỷ giá ngoại tệ thay đổi theo chiều hướng tăng. Thuộc nguồn vốn này thường bao gồm: chênh lệch đánh giá lại tài sản, chênh lệch tỷ giá.
  • + Nợ phải trả: là số tiền mà doanh nghiệp đi vay, chiếm dụng của đơn vị, tổ chức, cá nhân khác và do vậy doanh nghiệp có trách nhiệm pahỉ trả. Tùy theo tính chất từng khoản nợ và thời gian thanh toán mà được chia thành nợ ngắn hạn và nợ dài hạn:
  • + Nợ ngắn hạn: là khoản nợ mà doanh nghiệp có trách nhiệm phải thanh toán trong thời hạn một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh. Theo tính chất các khoản nợ, nợ ngắn hạn được chia làm 2 loại:
  •  Nợ tín dụng: là khoản nợ mà khi trả phải trả cả vốn lẫn lãi, bao gồm các khoản vay ngắn hạn.
  •  Nợ chiếm dụng: là khoản nợ mà đơn vị chiếm dụng của người khác, theo luật định trong quá trình mua bán không phải trả lãi.
  •  Nợ dài hạn: là các khoản nợ mà đơn vị phải thanh toán với thời hạn trên một năm hay một chu kỳ kinh doanh. Được chia làm 2 loại:
  •  Nợ tín dụng: vay dài hạn, vay trung hạn, nợ dài hạn.
  •  Nợ chiếm dụng: các khoản nhận ký quỹ, ký cược dài hạn, nợ người bán, người nhận thầu trên một năm.

Như vậy , giá trị tài sản và nguồn hình thành tài sản chỉ là 2 mặt khác nhau của một tài sản chứ không phải la 2 tài sản riêng biệt. Giá trị tài sản biểu hiện trạng thái cụ thể của tài sản, phản ánh cái đang có, đang tồn tại trong đơn vị. Nguồn hình thành tài sản biểu hiện mặt trừu tượng của tài sản, nó cho biết tài sản được hình thành từ đâu. Một tài sản có thể được tài trợ từ một hay nhiều nguồn khác nhau. Ngược lại, một nguồn có thể tham gia vào một hay nhiều tài sản. Về mặt lượng, tổng giá trị tài sản bao giờ cũng bằng tổng nguồn hình thành tài sản.
Phương trình kế toán cơ bản:
Giá trị tài sản = Nguồn vốn = Nguồn vốn chủ sở hữu + Nợ phải trả
Nguồn vốn chủ sở hữu = Tài sản – Nợ phải trả

Sự vận động của tài sản là đối tượng của hạch toán kế toán

Trong quá trình tái sản xuất, tài sản của doanh nghiệp không ngừng vận động qua các giai đoạn khác nhau, mỗi giai đoạn của sự vận động không những biến đổi về mặt hình thái tồn tại mà còn biến đổi về mặt giá trị. Tùy thuộc các lĩnh vực hoạt động kinh doanh như sản xuất, phân phối, lưu thông, tài sản của doanh nghiệp vận động qua các giai đoạn có khác nhau.

a) Đối với các doanh nghiệp sản xuất tài sản thường vận động qua 3 giai đoạn:


Gai đoạn mua hàng: tài sản chuyển từ hình thái tiền tệ sang hiện vật.
Giai đoạn sản xuất: sử dụng các nguyên vật liệu, tư liệu lao động, sức lao động để tạo ra sản phẩm theo mục đích đã định.
Giai đoạn bán hàng: tài sản biến đổi từ hình thái hiện vật sang hình thái tiền tệ.

b) Đối với các doanh nghiệp thương mại do chức năng cơ bản là mua – bán hàng hóa nên phải có khối
lượng tài sản tương xứng với quy mô hoạt động của đơn vị. Quá trình vận động của tài sản ở các doanh nghiệp này chỉ qua 2 giai đoạn.


- Giai đoạn mua hàng: tài sản của đơn vị biến đổi từ hình thái tiền tệ sang hiện vật.
- Giai đoạn bán hàng: tài sản biến đổi từ hình thái hiện vật sang tiền tệ.

c) Đối với các đơn vị hành chính – sự nghiệp: tài sản của các đơn vị này chủ yếu là do ngân sách Nhà Nước cấp bao gồm: tài sản lưu động và tài sản cố định.

Tài sản cố định chủ yếu là nhà cửa và các thiết bị phục vụ hoạt động chuyên môn của đơn vị.
Tài sản lưu động là vật liệu, dụng cụ phục vụ cho hoạt động chuyên môn và các khoản chi cho hoạt động chuyên môn chưa được quyết toán, chưa duyệt.
Quá trình vận động của tài sản trong các đơn vị này là quá trình chi tiêu các loại tài sản phục vụ cho hoạt động chuyên môn. Nguyên tắc cơ bản trong chi tiêu ở các đơn vị này là không bồi hoàn trực tiếp các khoản đã chi mà phải tuân theo dự toán và các quy định của chế độ tài chính hiện hành của Nhà Nước.
 

Theo Taichinh247

Có thể bạn quan tâm :

Nguồn : Đối tượng của hạch toán kế toán

Xem thêm :

Thứ Sáu, 5 tháng 8, 2011

Thu nhập vãng lai trên một triệu đồng mới phải nộp thuế

Bộ Tài chính đang cân nhắc đến việc tăng mức khởi điểm chịu thuế đối với các thu nhập vãng lai từ mức 500.000 đồng lên một triệu đồng.


Như vậy, thay vì mức 500.000 đồng hiện nay đã phải khấu trừ thuế 10% thì tới đây, có thể các khoản thu nhập vãng lai này được nâng lên mức trên một triệu đồng.

Lãnh đạo Bộ Tài chính cho biết cơ quan này đang xem xét nội dung trên để bổ sung vào thông tư hướng dẫn một số điểm của thuế thu nhập cá nhân. Theo đó, đối tượng được xem xét tính lại cách khấu trừ thuế sẽ được chia làm hai loại, gồm người có thu nhập chưa đến mức nộp thuế (khoảng 4 triệu đồng một tháng) thì không khấu trừ tiền thuế vãng lai. Đối tượng thứ 2 là những người đang nộp thuế thu nhập cá nhân sẽ phải khấu trừ trước khi chi trả.

Ngoài ra, dự thảo thông tư mới hướng dẫn Luật Thuế thu nhập cá nhân đang được Bộ Tài chính xây dựng, một số điểm mà dư luận đặc biệt quan tâm trong thời gian vừa qua như khoản giảm trừ gia cảnh cho đối tượng nộp thuế và người phụ thuộc cũng sẽ được cân nhắc. Bên cạnh đó, cơ quan này cũng xem xét đến việc sửa đổi khung thuế cho phù hợp với thực tế. Hiện nay, khoảng cách giữa các mức thuế bị cho là quá dày khiến những người đóng thuế thu nhập cao cảm thấy bị áp lực...

Tại buổi đối thoại với Bộ Tài chính hôm 2/6, một số doanh nghiệp Hàn Quốc cũng bày tỏ quan điểm không đồng tình với mức giảm trừ gia cảnh cho người nộp thuế (4 triệu đồng) và cho mỗi người phụ thuộc (1,6 triệu đồng). Có doanh nghiệp đã đề xuất việc miễn thuế thu nhập đối với người nước ngoài hoặc chỉnh sửa cho phù hợp với tình hình thực tế.

Theo vnexpress

NguồnThu nhập vãng lai trên một triệu đồng mới phải nộp thuế

Xem thêm:

- Kế toán thuế

Phần mềm kế toán cho doanh nghiệp

Thứ Bảy, 30 tháng 7, 2011

Tài khoản kế toán hiện hành áp dụng trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ

Tài khoản kế toán là cách thức phân loại và hệ thống hóa các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo từng đối tượng phản ánh của hạch toán kế toán nhằm phục vụ cho yêu cầu quản lý của các chủ thể. Để thực hiện công tác kế toán, các đơn vị, các tổ chức kinh tế phải sử dụng nhiều tài khoản khác nhau nhằm thỏa mãn nhu cầu thông tin đa chiều cho các đối ượng sử dụng 


 Các Tài khoản này tạo thành hệ thống Tài khoản kế toán mà các đơn vị tổ chức, doanh nghiệp sử dụng. Như vậy, hệ thống tài khoản kế toán là tập hợp các Tài khoản kế toán được sử dụng trong chế độ kế toán và trong từng đơn vị kế toán theo một trật tự nhất định. Trong hệ thống chế độ kế toán, hệ thống tài khoản kế toán là thành phần cơ bản, quyết định chất lượng của thông tin kế toán. Tuy nhiên, hệ thống Tài khoản kế toán doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện nay ở VN vẫn còn một số tồn tại. Chính vì vậy, việc nghiên cứu và hoàn thiện hệ thống Tài khoản kế toán là một trong những nội dung thiết thực, góp phần hoàn thiện hệ thống chế độ kế toán. Bài viết này đề cập đến một số tồn tại và hướng hoàn thiện hệ thống Tài khoản kế toán áp dụng trong các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa.


Hệ thống Tài khoản kế toán do Nhà nước ban hành là sự thể chế hóa cơ chế quản lý kinh tế, tài chính của Nhà nước đối với các đơn vị hạch toán, tạo điều kiện để các đơn vị hạch toán xây dựng hệ thống tài khoản phù hợp với đặc thù của từng đơn vị; đồng thời, tạo điều kiện thuân lợi cho công tác thanh, kiểm tra cũng như công tác kiểm toán các hoạt động kinh tế, tài chính diễn ra trong đơn vị kế toán. Mặt khác, hệ thống tài khoản kế toán do Nhà nước ban hành còn tạo điều kiện thực hiện các nguyên tắc chung được thừa nhận, các chuẩn mực kế toán. Từ đó, tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan thống kê trong việc thu thập thông tin để tính toán các chỉ tiêu tổng hợp của từng ngành, địa phương cũng như của cả quốc gian.
Nhìn chung, hệ thống tài khoản kế toán ban hành theo Quyết định số 48/2006/QĐ-BTC ngày 14/9/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính áp dụng trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa khá đơn giản, dễ thực hiện, phù hợp với quy mô và trình độ quản lý của phần lớn doanh nghiệp.

Theo Quyết định này, hệ thống tài khoản kế toán bao gồm các tài khoản thuộc Bảng cân đối kế toán (gồm 51 tài khoản cấp 1, 62 tài khoản cấp 2, 05 tài khoản cấp 3) và 05 tài khoản ngoài Bảng cân đối kế toán (loại 0). Các tài khoản trong Bảng cân đối kế toán được sắp xếp vào 9 loại, từ loại 1 (phản ánh tài sản ngắn hạn), loại 2 (phản ánh tài sản dài hạn), loại 3 (phản ánh nợ phải trả), loại 4 (phản ánh vốn chủ sở hữu), loại 5 (phản ánh doanh thu), loại 6 (phản ánh chi phí sản xuất kinh doanh), loại 7 (phản ánh thu nhập khác), loại 8 (phản ánh chi phí khác) cho đến loại 9 (phản ánh kết quả kinh doanh).

Trong từng loại, các tài khoản kế toán được sắp xếp theo một trình tự nhất định. Chẳng hạn, các tài khoản phản ánh tài sản được sắp xếp theo mức độ khả thanh (khả năng chuyển đổi thành tiền), các tài khoản phản ánh nguồn vốn sắp xếp từ nợ phải trả đến vốn chủ sở hữu). các tài khoản phản ánh doanh thu và chi phí được sắp xếp theo vị trí của từng hoạt động…

Để thực hiện tốt chức năng thông tin và kiểm tra đòi hỏi hệ thống tài khoản kế toán phải được xây dựng có căn cứ khoa học phải phản ánh được tình hình tài sản, nguồn vốn trên các phương diện và mức độ khác nhau (tổng hợp, chi tiết, tài sản, nguồn vốn,…) nhằm cung cấp thông tin để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn nói riêng và hiệu quả kinh doanh nói chung trong doanh nghiệp. Bên cạnh đó, hệ thống tài khoản kế toán phải phản ánh được tính liên hòan của quá trình kinh doanh và có thể thay đổi theo từng thời kỳ, từng giai đoạn phát triển kinh tế của đất nước.

Với yêu cầu nêu trên, so với hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa ban hành theo Quyết định số 48/2006/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính, chúng tôi thấy còn một số tồn tại chủ yếu sau đây cần được hoàn thiện:

Thứ nhất, tên gọi tài khoản kế toán:

Tên gọi của tài khoản chính là tên gọi là đối tượng kế toán. Vì thế, tên gọi của tài khoản kế toán phải phù hợp với nội dung kinh tế của đối tượng kế toán mà tài khoản phản ánh. Tuy nhiên, tên gọi của một số tài khoản hiện nay còn chưa phù hợp với nội dung kinh tế mà nó phản ánh. Đặc biệt là một số tài khoản phản ánh tình hình thanh toán thuộc loại 1 và loại 3; chẳng hạn tài khoản 131 “Phải thu của khách hàng”, tài khoản 331 “Phải trả cho người bán”,…Với tên gọi đó, các tài khoản này mới chỉ phản ánh được một phần nội dung mà các tài khoản này phản ánh; bởi vì đây là những tài khoản hỗn hợp, nghĩa là trong từng tài khoản đều phản ánh đồng thời hai mối quan hệ thanh toán phải thu và phải trả.

Vì vậy cần thiết phải sửa lại tên cho đúng với bản chất kinh tế mà nó phản ánh, tránh việc hiểu không rõ về nội dung, kết cấu của tài khoản dẫn đến việc sử dụng không đúng với quy định. Chúng tôi cho rằng, để phản ánh được đúng bản chất và nội dung của đối tượng phản ánh, tên gọi của tài khoản 131 phải là “Thanh toán với người mua” (hoặc “Thanh toán với khách hàng”) và tên gọi của tài khoản 331 phải là “Thanh toán với người bán” (hoặc “Thanh toán với nhà cung cấp”).

Thứ hai, số hiệu và nội dung phản ánh của tài khoản kế toán.

Ngoài việc thiếu thống nhất về số hiệu tài khoản, trong các chế độ kế toán khác nhau còn có sự thiếu thống nhất về nội dung phản ánh. Điều đó gây khá nhiều khó khăn cho các cơ quan quản lý trong việc kiểm tra, giám sát tình hình tài chính doanh nghiệp. một số tài khoản có cùng số hiệu, cùng tên gọi nhưng nội dung phản ánh là khác nhau.

 Ví dụ, theo quyết định số 48/2006/QĐ-BTC, tài khoản 154 “chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang” được dùng để tập hợp chi phí sản xuất, kinh doanh (chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công , chi phí sản xuất chung) đồng thời dùng tổng hợp chi phí sản xuất, kinh doanh phục vụ cho việc tính giá thành sản phẩm nhưng theo quyết định số 15/2006/QĐ-BTC, tài khoản này chỉ dùng để tổng hợp chi phí sản xuất, kinh doanh phục vụ cho việc tính giá thành sản phẩm. việc tập hợp chi phí sản xuất – kinh doanh (chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp; chi phí nhân công trực tiếp; …) được thông qua các tài khoản trung gian (tài khoản 621 “chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp”, tài khoản 622 “chi phí nhân công trực tiếp”, tài khoản 623 “chi phí sử dụng máy thi công”, tài khoản 627 “chi phí sản xuất chung”). Như vậy, tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa nếu muốn kiểm soát chi phí sản xuất theo khoản mục thì sẽ phải tự mở các tại khoản riêng hoặc phải mờ chi tiết thêm cho các tài khỏan 154 “chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang”.

Có thể dễ dàng tìm thấy khá nhiều tài khoản giống như tài khoản 154 trong hệ thống tài khoản kế toán áp dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa như: tài khoản 521 “các khoản giảm trừ doanh thu”, tài khoản 642 “chi phí quản lý kinh doanh”, …

Sở dĩ như vậy là do có sự phân biệt về tài khoản sử dụng để phản ánh những hoạt động kinh tế giống nhau giữa các doanh nghiệp nhỏ và vừa và doanh nhiệp có quy mô lớn; do hệ thống tài khoản kế toán trong doanh nghiệp nhỏ và vừa được xây dựng bằng cách gộp nhiều tài khoản tổng hợp lại. tuy nhiên, nhằm đảm bảo tính thống nhất về các nguyên tắc, phương pháp kế toán phục vụ cho quản lý điều hành chung nền kinh tế thì yêu cầu về tính thuận tiện cho việc chỉ đạo, kiểm tra kế toán và nâng cao khả năng so sánh đối chiếu được đặt lên hàng đầu. vì vậy, sự phân chia này chỉ làm tăng thêm tính phức tạp trong việc áp dụng và thực hiện công tác kế toán tại doanh nghiệp. Bởi vì việc gộp nhiều tài khoản tổng hợp lại dẫn đến số lượng tài khoản tổng hợp sử dụng giảm đi nhưng lại làm tăng số lượng tài khoản chi tiết. Số lượng tài khoản tổng hợp mà doanh nghiệp sử dụng giảm đi không có nghĩa là công tác kế toán sẽ giản đơn hơn, tiết kiệm chi phí hơn mà ngược lại, khối lượng công việc kế toán chi tiết lại tăng đáng kể. Mặt khác, việc thu thập thông tin cung cấp cho quản lý lại khó khăn  hơn.

Thứ ba, trình tự sắp xếp tài khoản kế toán:

Trình tự sắp xếp các tại khỏan trong hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa được thể hiện qua số hiệu, tên gọi của tài khoản, thể hiện được vị trí của từng tài khoản trong hệ thống. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện công tác kế toán trong doanh nghiệp, giúp cho người làm kế toán dễ nắm bắt được nội dung, kết cấu và phương pháp ghi chép trên các tài khoản. Trình tự sắp xếp tài khoản kế toán về thực chất là trình tự đánh số hiệu và đặt tên các tài khoản kế toán. Công việc này liên quan đến việc thu thập thông tin, gắn liền với việc lập báo cáo tài chính. Như đã trình bày ở trên, các tài khoản phản ánh tài sản được xếp theo mức độ khả thanh hay khả năng chuyển đổi thành tiền, còn các tài khoản phản ánh nguồn vốn được xếp theo nợ phải trả rồi đến vốn chủ sở hữu. Mặt khác, các tài khoản phản ánh các nội dung có cùng bản chất kinh tế phải được sắp xếp vào cùng một loại.

Tuy nhiên, trong hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện nay, việc sắp xếp các tài khoản kế toán vẫn chưa tuân thủ nguyên tắc trên. Chẳng hạn, trong laọi 2 “tài sản dài hạn”, các tài khoản phản ánh tài sản cố định được xếp trước các tài khoản phản ánh đầu tư tài chiánh dài hạn và bất động sản đầu tư. Như đã biết, tài sản cố định đã và đang đầu tư là bộ phận cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp. Bộ phận này có khả năng chuyển đổi thành tiền chậm nhất và một khi doanh nghiệp đã bán tài sản cố định để thanh toán thì doanh nghiệp đó khó mà tồn tại được. Chính vì thế, theo chúng tôi, trình tự sắp xếp cacs tài khoản trong loại 2 “tài sản dài hạn” phải theo trình tự từ các khoản đầu tư tài chính dài hạn; bất động sản đầu tư; các khoản ký cược, ký quĩ dài hạn; chi phí trả trước dài hạn rồi mới đến tài sản cố định và chi phí xây dựng cơ bản dở dang. Và do vậy, ký hiệu các tài khoản cũng thay đổi tương ứng với trật tự sắp xếp trên.

Thứ tư, phân nhóm tài khoản:

Phân nhóm tài khoản là việc sắp xếp các tài khoản có cùng bản chất và nội dung phản ánh vào cùng một nhóm. Việc phân nhóm tài khoản đòi hỏi sao cho vừa đơn giản, vừa phản ánh đúng bản chất và nội dung của tài khoản, tránh sự cồng kềnh, tạo cảm giác nặng nề cho hệ thống tài khoản kế toán. Chính vì vậy, chúng tôi cho rằng: không nên chia các tài khoản trong Bản cân đối kế toán áp dụng trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa thành 9 loại như hiện nay mà chỉ cần chia thành 7 loại; trong đó, các tài khoản từ loại 1 đến loại 4 giữ nguyên (chỉ thay đổi một số tên gọi và ký hiệu như đã trình bày ở trên), còn các tài khoản loại 5 và loại 7 do dùng để phản ánh doanh thu và thu nhập khác nên gộp thành loại 5 với tên gọi “doanh thu và thu nhập khác”. Tương tự, các tài khoản loại 6 và loại 8 dùng để phản ánh chi phí hoạt động nên gộp thành loại 6 với tên gọi “chi phí kinh doanh và chi phí khác”; loại 9 sẽ chuyển thanh loại 7 với tên gọi “xác định kết quả hoạt động”

Thứ năm, mở tài khoản chi tiết cho các tài khoản thanh toán:

Để thu thập thông tin lập báo cáo tài chính, việc yêu cầu phải mở các tài khoản thanh toán chi tiết theo ngắn hạn và dài hạn chưa thống nhất.

Trên đây là một số tồn tại trong hệ thống tài khoản kế toán áp dụng cho các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa ban hành theo Quyết định số 48/2006/QĐ-BTC ngày 14/9/2006 của bộ trưởng Bộ tài chính. Với mong muốn hoàn thiện hệ thống tài khoản kế toán nói riêng và hệ thống chế độ kế toán nói chung, chúng tôi mong các cơ quản hữu quan sớm có những nghiên cứu cụ thể, thiết thực, phù hợp với loại hình doanh nghiệp này cũng như điều kiện phát triển kinh tế cụ thể trong từng thời kỳ để sớm đưa hệ thống kế toán Việt Nam hòa nhập với hệ thống kế toán Châu á và thế giới.

Theo Kế Toán Nhanh

Nguồn: Tài khoản kế toán hiện hành áp dụng trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ
__________________

Có thể bạn quan tâm:

Thứ Sáu, 22 tháng 7, 2011

Kế toán đối với doanh nghiệp giải thể

Mặc dù Bộ Taì chính và các ngành chức năng liên quan đã ban hành nhiều văn bản pháp lý liên quan đến giải thể doanh nghiệp nhưng những vấn đề cụ thể về kế toán vẫn chưa được đề cập đến trong chế độ kế toán cũng như các quyết định, thông tư liên quan


Giải thể doanh nghiệp có thể diễn ra do hết hạn thời gian hoạt động ghi trong quyết định thành lập mà công ty không xin gia hạn, do thua lỗ kéo dài hoặc việc duy trì công ty là không cần thiết... Khi giải thể doanh nghiệp, kế toán cần xác định giá trị tài sản của doanh nghiệp, giải quyết dứt điểm các khoản nợ phải trả và các vấn đề liên quan đến hợp đồng lao động cũng như vốn chủ sở hữu.

Thời điểm này đòi hỏi kế toán hoạch toán đúng, đầy đủ, chính xác các nghiệp vụ cần giải quyết và điều chỉnh tư cách pháp nhân của doanh nghiệp không còn tồn tại. Mặc dù Bộ Tài chính và các ban ngành chức năng liên quan đã ban hành nhiều văn bản pháp lý liên quan đến giải thể doanh nghiệp nhưng những vấn đề cụ thể về kế toán, về phương pháp kế toán vẫn chưa được đề cập trong chế độ kế toán cũng như các quyết định, thông tư liên quan. Bài viết xin đưa ra một số kinh nghiệm trong kế toán Pháp về kế toán khi các doanh nghiệp giải thể để bạn đọc tham khảo.

Khi giải thể, doanh nghiệp phải chọn ra một người chịu trách nhiệm chính về các công việc giải thể, thông thường đó là một số các thành viên tham gia góp vốn hoặc một người thứ ba. Người nàu được cử ra theo quyết định của hội đồng các thành viên hoặc bởi toàn án.
Doanh nghiệp cần phải thiết lập các sổ kế toán cho việc giải thể dưới sự kiểm soát của hội đồng các thành viên và các quan sát viên (nếu có).

Các doanh nghiệp có thể không phải mở nhiều tài khoản riêng để phản án việc giải thể doanh nghiệp. Các nghiệp vụ về giải thể được hoạch toán như các trường hợp bình thường khác. Tuy vậy, khi giải thể, các doanh nghiệp cần mở một tài khoản đặc thù là “Kết quả giải thể” để tổng hợp thu nhập, chi phí bất thường phát sinh do việc giải thể.
 

Theo Kế toán nhanh

Nguồn: Kế toán đối với doanh nghiệp giải thể

Thứ Sáu, 8 tháng 7, 2011

Quy định bổ sung thủ tục nhập khẩu ôtô chở người loại 9 chỗ trở xuống

Quy định bổ sung thủ tục nhập khẩu ôtô chở người loại từ 9 chỗ ngồi trở xuống. Bộ Công Thương vừa ban hành Thông tư số 20 quy định bổ sung thủ tục nhập khẩu ôtô chở người loại từ 9 chỗ ngồi trở xuốngBộ Công Thương vừa ban hành Thông tư số 20/2011/TT-BCT quy định bổ sung thủ tục nhập khẩu ôtô chở người loại từ 9 chỗ ngồi trở xuống.

Theo đó, kể từ ngày 26/6/2011, để nhập khẩu loại mặt hàng trên, ngoài việc thực hiện các quy định hiện hành, các thương nhân phải nộp bổ sung  thêm một số loại giấy tờ cho các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để hoàn thiện thủ tục.

Cụ thể là để được nhập khẩu, doanh nghiệp buộc phải có giấy chỉ định hoặc giấy ủy quyền của nhà nhập khẩu, nhà phân phối của chính hãng sản xuất hay hợp đồng đại lý của chính hãng sản xuất đã được cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định của pháp luật.

Đồng thời, doanh nghiệp cũng phải có được giấy chứng nhận cơ sở bảo hành, bảo dưỡng ôtô đủ điều kiện do Bộ Giao thông Vận tải cấp. Các loại giấy tờ trên doanh nghiệp có thể nộp một bản sao có xác nhận và đóng dấu sao y bản chính.

Giới kinh doanh ôtô nhập khẩu đánh giá quy định của Bộ Công Thương giống như một động tác “khép cửa” đối với thị trường ôtô nhập khẩu không chính thức. Bởi lẽ sẽ không hề đơn giản để doanh nghiệp có được các loại giấy tờ theo quy định tại thông tư này.

Trước hết là ở vấn đề quan hệ giao thương, đối tác. Một trong những nguyên tắc của các nhà sản xuất ôtô đối với các thị trường ngoài nước là nhà phân phối phải đáp ứng đủ các điều kiện pháp lý, dịch vụ để có thể đại diện cho hãng tại thị trường sở tại, qua đó đảm bảo được sự an toàn và phát triển uy tín thương hiệu của hãng. Thứ hai là tại một thị trường bên ngoài, nếu hãng đã có liên doanh với doanh nghiệp của quốc gia (hay vùng lãnh thổ) đó hoặc đã có nhà phân phối chính thức thì thông thường sẽ không cho phép mở thêm bất kỳ nhà phân phối chính thức nào khác.

Trong khi đó, việc nhận được sự đồng ý để có thể được cấp giấy chỉ định của nhà nhập khẩu hay phân phối chính thức của một hãng ôtô nào đó tại Việt Nam gần như là bất khả thi đối với các doanh nghiệp khác.

Ví dụ tại Việt Nam, tập đoàn Audi đã có nhà nhập khẩu và phân phối chính thức là Automotive Asia và Công ty Cổ phần Liên Á Quốc tế thì đương nhiên Audi sẽ không cho phép có thêm nhà nhập khẩu và phân phối khác. Vì vậy, việc có được hợp đồng đại lý là không thể. Hay với trường hợp Toyota. Tập đoàn này hiện đã có liên doanh - đồng nghĩa là đại diện chính thức - tại Việt Nam nên cũng sẽ không cấp phép cho nhà nhập khẩu xe nguyên chiếc khác vì như thế sẽ gây ra xung đột lợi ích với chính liên doanh của mình.

Các salon ôtô nhập khẩu cho rằng, việc có được chứng nhận cơ sở bảo hành, bảo dưỡng ôtô đủ điều kiện do Bộ Giao thông Vận tải cấp không quá khó khi doanh nghiệp đầu tư lớn. Tuy nhiên, có được các giấy tờ từ nhà sản xuất hay đại diện của họ tại Việt Nam  đồng thời đã được cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định của pháp luật mới là bài toán nan giải.

Tại thị trường ôtô nhập khẩu Việt Nam hiện nay đang tồn tại 3 hình thức phân phối, gồm: Nhà nhập khẩu và phân phối chính thức như BMW Euro Auto, Audi, Porsche; các liên doanh sản xuất, lắp ráp thực hiện thêm chức năng nhập khẩu và phân phối xe nguyên chiếc như Toyota, Ford; các salon kinh doanh xe nhập khẩu không chính thức.

Theo các chuyên gia, việc Bộ Công Thương quy định các thủ tục bổ sung của đối với doanh nghiệp nhập khẩu mặt hàng ôtô chở người từ 9 chỗ ngồi trở xuống tại Thông tư 20 thực tế chỉ tác động trực tiếp đến khối doanh nghiệp kinh doanh xe nhập khẩu không chính thức.

Tại Hà Nội, Tp.HCM hay Hải Phòng hiện nay đang tồn tại rất nhiều các doanh nghiệp như vậy. Đại đa số các doanh nghiệp này chỉ tiến hành mua xe tại nước ngoài (như một khách hàng thông thường) rồi đưa về Việt Nam bán cho người tiêu dùng. Do đó, các dịch vụ sau bán hàng như bảo hành, bảo dưỡng, cung cấp phụ tùng chính hiệu thường không được đảm bảo. Bên cạnh đó, đa số các doanh nghiệp này thường chỉ bán xe chứ không thực hiện hoặc không đủ điều kiện thực hiện các dịch vụ bảo hành, bảo dưỡng theo tiêu chuẩn. Thậm chí nhiều trong số đó chỉ kinh doanh ôtô trong một thời gian ngắn rồi chuyển sang lĩnh vực kinh doanh khác.

Từ lý do trên, Bộ Công Thương cho rằng các quy định bổ sung sẽ góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Ngoài ra, động tác này của Bộ Công Thương cũng được coi là nhằm góp phần hạn chế nhập siêu và đảm bảo an toàn giao thông đường bộ.

Theo TBKT

 Nguồn : Quy định bổ sung thủ tục nhập khẩu ôtô chở người loại 9 chỗ trở xuống

Thứ Sáu, 1 tháng 7, 2011

Các báo cáo tài chính cơ bản giúp điều hành một doanh nghiệp

1. Bảng cân đối kế toán.

• Nó dùng để đánh giá doanh nghiệp đang tiến triển thế nào. Bạn có thể sử dụng bảng cân đối kế toán để đánh giá tình hình tài chính, nghĩa vụ trả nợ của doanh nghiệp của bạn.
 
• Nó rất hữu ích khi bạn nhìn vào khía cạnh lợi nhuận và chi phí bởi vì qua bảng cân đối kế toán bạn có được một bức tranh tổng thể.
 
• Sử dụng bảng cân đối kế toán để đảm bảo một khoản vay: Khi bạn đi vay ngân hàng, các ngân hàng thường yêu cầu bạn nộp báo các kế toán để họ đánh giá khả năng hoàn trả nợ của bạn. Nếu bạn có một bàng cân đối kế toán tốt, bạn sẽ có nhiều cơ hội được vay vốn ngân hàng.

2. Báo cáo kết quả kinh doanh (Báo cáo lãi lỗ).

Báo cáo kết quả kinh doanh hoặc báo cáo lãi lỗ cho bạn biết doanh nghiệp bạn kiếm được bao nhiêu tiền sau khi đã trừ đi hết chi phí. Báo cáo kết quả kinh doanh được đọc từ trên xuống và cho biết doanh thu và chi phí cho một khoảng thời gian nhất định. Một bảng báo cáo kết quả kinh doanh sẽ không chỉ ra những vấn đề như không đủ tiền mặt luân chuyển. Bạn cần phải chuẩn bị báo cáo lưu chuyển tiền tệ để xem bạn có vấn đề gì về việc không đủ tiền mặt để lưu chuyển trong quá trình hoạt động.

3. Bảng báo cáo lưu chuyển tiền tệ

Sử dụng dự báo dòng tiền mặt như một công cụ kinh doanh.
 
Một bảng dự báo dòng tiền mặt có thể là một công cụ kinh doanh rất quan trọng nếu nó được sử dụng hiệu quả. Hãy nhớ rằng nó là một báo cáo động - bạn cần thay đổi và điều chỉnh nó thường xuyên phụ thuộc vào hoạt động kinh doanh, các khoản chi trả và nhu cầu của nhà cung cấp.
 
Việc thay đổi bảng dự báo này cũng rất hữu ích, thay dổi các con số về doanh số bán hàng, về mua sắm và chi phí nhân viên. Những thay đổi về luật pháp, lãi suất và thuế cũng ảnh hưởng đến bảng dự báo này.
 
Để có điều chỉnh về bảng dự báo tiền mặt, bạn cần:

• Xem xét các vấn đề có thể xảy ra và tìm giải pháp cho chúng.
 
• Xác định bất cứ sự thiếu hụt tiền mặt tiềm ẩn nào và có những biện pháp phù hợp.
 
• Đảm bảo bạn có đủ tiền mặt trước khi bạn định làm bất kỳ cam kết tài chính quan trọng nào.
 
Sử dụng dự báo tiền mặt để tránh kinh doanh…

Có một dự báo dòng tiền mặt chính xác sẽ đảm bảo cho bạn đạt được sự tăng trưởng ổn định mà không phải kinh doanh vượt mức. Bạn biết rằng khi bạn có đủ tài sản để mở rộng kinh doanh – và rất quan trọng nữa là khi bạn cần phải củng cố việc kinh doanh. Điều này giúp bạn đảm bảo cho nhân viên, khách hàng, nhà cung cấp đều hài lòng. Xin xem hướng dẫn về làm thề nào để tránh những vấn đề kinh doanh vượt mức.
 
Một điều rất quan trọng là bạn đưa những dấu hiệu cảnh báo vào dự báo dòng tiền mặt của bạn. Ví dụ, nếu mức tiền mặt được dự báo sát với quyền được rút tiền, điều này chỉ ra rằng bạn nên cảnh giác và nên đưa dòng tiền mặt ở mức chấp nhận được. Xin xem hướng dẫn về làm thế nào để xác định các vấn đề về dòng tiền mặt tiềm năng.
 
 Theo business.gov

Nguồn Các báo cáo tài chính cơ bản giúp điều hành một doanh nghiệp

Xem thêm:

Thứ Sáu, 17 tháng 6, 2011

Doanh nghiệp được hưởng ưu đãi về thuế

Doanh nghiệp nào được hưởng ưu đãi về thuế suất 10% trong thời hạn 15 năm và thời gian miễn thuế 4 năm, giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm kế tiếp?   

Doanh nghiệp được hưởng ưu đãi về thuế suất 10% trong thời hạn 15 năm và thời gian miễn thuế 4 năm, giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo bao gồm:

1. Doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn (quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 124/2008/NĐ-CP ngày 11/12/2008 của Chính Phủ)

2. Doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư tại Khu kinh tế, khu công nghệ cao được thành lập theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

3. Doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư thuộc lĩnh vực Công nghệ cao theo quy định của pháp luật; nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ.

4. Doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư thuộc lĩnh vực Công nghệ cao theo quy định của pháp luật; nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ thuộc loại dự án có quy mô lớn, công nghệ cao.

5. Doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư thuộc lĩnh vực Đầu tư phát triến nhà máy nước, nhà máy điện, hệ thống cấp thoát nước; cầu, đường bộ, đường sát, cảng hàng không, cảng biển, cảng sông, sân bay, nhà ga và công trình cơ sở hạ tầng đặc biệt quan trọng khác do Thủ tưởng Chính Phủ quyết định.

6. Doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư thuộc lĩnh vực sản xuất sản phẩm phần mềm.

Theo tạp chí thuế

 Nguồn: Doanh nghiệp được hưởng ưu đãi về thuế

Có thể bạn quan tâm:

Thứ Sáu, 10 tháng 6, 2011

Làm thế nào để tra mã số thuế

Cơ quan Thuế có trách nhiệm xử lý, lưu giữ hồ sơ đăng ký thuế, cấp Giấy chứng nhận đăng ký thuế hoặc Thông báo mã số thuế. Cơ quan Thuế xây dựng, quản lý toàn bộ hệ thống mã số thuế của người nộp thuế và cập nhật thông tin đăng ký thuế thay đổi vào hệ thống quản lý mã số thuế trên mạng máy tính ngành Thuế.

Cơ quan Thuế có trách nhiệm phối hợp với các Bộ, ngành liên quan để tổ chức đưa mã số thuế vào hệ thống thông tin hiện có của các Bộ, ngành có chức năng quản lý liên quan đến người nộp thuế.

Tổng cục Thuế có trách nhiệm cung cấp kịp thời, đầy đủ thông tin về các đối tượng được cấp mã số thuế bao gồm các trường hợp cấp mã số thuế mới, thay đổi các thông tin đăng ký thuế và trường hợp ngừng hoạt động, tổ chức, sắp xếp lại doanh nghiệp trên toàn quốc cho Tổng cục Hải quan và cung cấp thông tin đăng ký thuế cho Bộ, ngành liên quan theo quy định.

Do đó muốn tra mã số thuế, bạn cần vào trang web của cơ quan thuế điền đầy đủ các thông tin cần tra cứu để sử dụng tài nguyên mã số thuế đã được cơ quan thuế lưu giữ.

Chúc bạn tra mã số thuế thành công!

Nguồn: Làm thế nào để tra mã số thuế

Thứ Sáu, 3 tháng 6, 2011

Các thủ tục đăng ký mã số thuế

1. Thời hạn đăng ký thuế, cấp mã số thuế:

Đối tượng thuộc diện đăng ký thuế phải đăng ký thuế theo mẫu quy định với cơ quan thuế, trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày:

- Được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép thành lập và hoạt động hoặc giấy chứng nhận đầu tư;

- Bắt đầu hoạt động kinh doanh trong trường hợp không có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc ngày phát sinh nghĩa vụ thuế trong trường hợp người nộp thuế là tổ chức, cá nhân không kinh doanh;

- Phát sinh trách nhiệm khấu trừ thuế và nộp thuế thay của các tổ chức cá nhân;

- Bắt đầu thực hiện nhiệm vụ thu phí, lệ phí theo quy định của pháp luật;

- Phát sinh nghĩa vụ thuế thu nhập cá nhân (ngày cá nhân nhận thu nhập);

- Phát sinh tiền thuế GTGT được hoàn theo quy định của pháp luật về thuế đối với các chủ dự án (hoặc đại diện được uỷ quyền như ban quản lý công trình), nhà thầu chính nước ngoài.

2. Hồ sơ đăng ký thuế nhận mã số thuế

2.1. Hồ sơ đăng ký thuế đối với người nộp thuế là tổ chức kinh doanh (trừ các đơn vị trực thuộc) gồm:

- Tờ khai đăng ký thuế theo mẫu 01-ĐK-TCT và các bảng kê kèm theo đăng ký thuế (nếu có).

- Bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc Giấy phép đầu tư nước ngoài tại Việt Nam; hoặc Bản sao Quyết định thành lập.

Trường hợp tổ chức kinh doanh là đơn vị chủ quản có đơn vị trực thuộc thì tổ chức kinh doanh phải kê khai các đơn vị trực thuộc vào "Bản kê các đơn vị trực thuộc". Cơ quan Thuế quản lý đơn vị chủ quản cấp mã số thuế cho đơn vị chủ quản, đồng thời cấp mã số cho từng đơn vị trực thuộc có trong "Bản kê các đơn vị trực thuộc" của đơn vị chủ quản, kể cả trường hợp các đơn vị trực thuộc đóng tại các tỉnh khác. Đơn vị chủ quản có trách nhiệm thông báo mã số thuế (13 số) cho các đơn vị trực thuộc. Cơ quan thuế quản lý đơn vị chủ quản có trách nhiệm thông báo mã số thuế (13 số) cho cơ quan thuế quản lý đơn vị trực thuộc.

2.2. Hồ sơ đăng ký thuế đối với người nộp thuế là đơn vị trực thuộc của tổ chức kinh doanh gồm:

- Tờ khai đăng ký thuế theo mẫu số 02-ĐK-TCT và các bảng kê kèm theo (nếu có). Trên tờ khai đăng ký thuế phải ghi rõ mã số thuế 13 số đã được đơn vị chủ quản thông báo.

- Bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của chi nhánh hoặc giấy phép đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

2.3. Hồ sơ đăng ký thuế đối với người nộp thuế là cá nhân, nhóm cá nhân, hộ kinh doanh gồm:

- Tờ khai đăng ký thuế theo mẫu 03-ĐK-TCT, kèm theo bản kê cửa hàng, cửa hiệu kinh doanh tại địa bàn quận, huyện, thị xã hoặc tỉnh khác với cơ sở kinh doanh chính (nếu có).

- Bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (nếu có).

- Bản sao Giấy chứng minh nhân dân.

Riêng trường hợp cá nhân có cửa hàng, cửa hiệu đóng khác địa bàn (tỉnh, thành phố, quận, huyện, thị xã) với cơ sở chính, kê khai đăng ký thuế với Chi cục thuế nơi có cửa hàng, cửa hiệu thì hồ sơ đăng ký nộp thuế là: Tờ khai đăng ký nộp thuế theo mẫu số 03.1-ĐK-TCT.

2.4. Hồ sơ đăng ký thuế đối với người nộp thuế là nhà thầu, nhà thầu phụ nước ngoài trực tiếp nộp thuế tại Việt Nam gồm:

- Tờ khai đăng ký thuế theo mẫu 04-ĐK-TCT.

- Bản sao Giấy phép hoạt động kinh doanh tại Việt Nam.

- Bản sao và bản dịch tiếng Việt "Giấy phép kinh doanh hoặc Giấy phép hành nghề độc lập, giấy chứng nhận đăng ký thuế" do nước chủ nhà cấp cho nhà thầu, nhà thầu phụ nước ngoài.

- Bản kê các văn phòng điều hành dự án của nhà thầu, nhà thầu phụ nước ngoài trực tiếp nộp thuế tại Việt Nam (nếu có).

2.5. Hồ sơ đăng ký thuế đối với Ban điều hành dự án thực hiện hợp đồng của nhà thầu, nhà thầu phụ nước ngoài trực tiếp nộp thuế tại Việt Nam:

Trường hợp nhà thầu, nhà thầu phụ nước ngoài trực tiếp nộp thuế tại Việt Nam khi thực hiện dự án đầu tư, đã đăng ký thuế và được cơ quan thuế cấp mã số thuế 10 số, nếu phát sinh các hợp đồng (thuộc dự án) tại các địa điểm khác, thì nhà thầu phải kê khai đăng ký thuế để được cấp mã số thuế 13 số cho các Ban điều hành dự án hoặc nhà thầu, nhà thầu phụ nước ngoài trực tiếp thực hiện từng hợp đồng theo mẫu "Tờ khai đăng ký thuế mẫu 04.3-ĐK-TCT".

Hồ sơ Đăng ký thuế gồm:

- Tờ khai đăng ký thuế theo mẫu 04.3-ĐK-TCT.

- Hợp đồng ký với bên Việt Nam (bản trích lục tiếng Việt).

- Giấy phép đầu tư, giấy phép thầu của Ban điều hành dự án hoặc nhà thầu, nhà thầu phụ nước ngoài trực tiếp thực hiện hợp đồng (nếu có)

2.6. Hồ sơ đăng ký thuế đối với trường hợp nhà thầu và nhà thầu phụ nước ngoài không trực tiếp nộp thuế tại Việt Nam:

Đối với trường hợp nhà thầu và nhà thầu phụ nước ngoài, các hợp đồng, hợp tác kinh doanh của Việt Nam với người nước ngoài, nhưng bên nước ngoài không trực tiếp nộp thuế tại Việt Nam, thì bên Việt Nam ký hợp đồng với nhà thầu có trách nhiệm kê khai và nộp thuế cho bên nước ngoài. Bên Việt Nam được cấp một mã số thuế 10 số để sử dụng cho việc kê khai, nộp hộ thuế cho các nhà thầu, nhà thầu phụ nước ngoài. Trường hợp bên Việt Nam ký hợp đồng là doanh nghiệp đã được cấp mã số thuế thì không được sử dụng mã số thuế của doanh nghiệp để kê khai, nộp thuế cho các nhà thầu, nhà thầu phụ nước ngoài.

Hồ sơ đăng ký mã số thuế cho Bên Việt Nam ký hợp đồng nộp thuế cho nhà thầu, nhà thầu phụ nước ngoài gồm:

- Tờ khai đăng ký thuế theo mẫu số 04.1-ĐK-TCT kèm theo Bản kê các nhà thầu, nhà thầu phụ nước ngoài mà bên Việt Nam kê khai, nộp thay thuế.

- Hợp đồng ký với nhà thầu nước ngoài (bản trích lục tiếng Việt).

- Bản kê danh sách các nhà thầu phụ, nhà thầu phụ nước ngoài ký hợp đồng hợp tác kinh doanh có kê khai, nộp thuế thông qua bên Việt Nam. Mỗi nhà thầu, nhà thầu phụ nước ngoài trong bản kê sẽ được cấp mã số thuế 13 số theo mã số thuế nộp hộ của Bên Việt Nam ký hợp đồng. Mã số thuế này được sử dụng để phân biệt số thuế phải nộp, đã nộp của từng nhà thầu, nhà thầu phụ nước ngoài khi Bên Việt Nam ký hợp đồng kê khai và nộp hộ thuế với cơ quan Thuế. Bên Việt Nam ký hợp đồng phải thực hiện kê khai đăng ký thuế cho từng nhà thầu, nhà thầu phụ theo "Phụ lục tờ khai đăng ký thuế - Mẫu số 04.2-ĐK-TCT"; đồng thời phải làm thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số 13 số của các nhà thầu nước ngoài khi chấm dứt hợp đồng.

2.7. Hồ sơ đăng ký thuế đối với người nộp thuế là nhà thầu, nhà thầu phụ nước ngoài, bên nước ngoài tham gia hợp đồng, hợp tác kinh doanh, kê khai, nộp thuế thông qua bên Việt Nam gồm :

- Tờ khai đăng ký thuế theo mẫu 04.2-ĐK-TCT, trên tờ khai ghi sẵn mã số thuế 13 số của các nhà thầu.

- Hợp đồng ký với bên Việt Nam (bản trích lục tiếng Việt).

- Bản sao và bản dịch tiếng Việt "Giấy phép kinh doanh hoặc Giấy phép hành nghề độc lập, giấy chứng nhận đăng ký thuế" do nước chủ nhà cấp cho nhà thầu, nhà thầu phụ nước ngoài.

2.8. Hồ sơ đăng ký thuế (đăng ký mã số thuế) đối với người nộp thuế là cá nhân nộp thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao gồm:

- Tờ khai đăng ký thuế theo mẫu 05-ĐK-TCT.

- Chứng minh thư nhân dân hoặc Hộ chiếu đối với người nước ngoài (bản sao)

- 02 ảnh cỡ 2 x 3 của người đăng ký thuế (01 dán vào tờ khai đăng ký thuế, 01 để dán vào thẻ mã số thuế).

Cá nhân kê khai nộp thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao trực tiếp với cơ quan Thuế thì nộp hồ sơ đăng ký thuế tại cơ quan Thuế để được cấp Thẻ mã số thuế cá nhân.

2.9. Hồ sơ đăng ký thuế đối với người nộp thuế là cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự và cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam (có hoàn thuế giá trị gia tăng) là: Tờ khai đăng ký thuế theo mẫu 06-ĐK-TCT.

2.10. Hồ sơ đăng ký thuế (đăng ký mã số thuế) đối với người nộp thuế là tổ chức được ủy quyền thu thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật; các chủ dự án, các nhà thầu chính nước ngoài của các dự án ODA; tổ chức khấu trừ thuế thu nhập cá nhân nhưng đơn vị không có hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ là: Tờ khai đăng ký thuế theo mẫu 01-ĐK-TCT (chỉ kê khai các chỉ tiêu: 1, 2, 3, 4, 12, 18).

Riêng tổ chức, cá nhân thu phí, lệ phí thuộc ngân sách nhà nư­ớc phải có thêm Tờ khai đăng ký thu phí, lệ phí theo Mẫu số 1 qui định tại Thông tư số 63/2002/TT-BTC ngày 24/07/2002 của Bộ Tài chính hướng dẫn về phí, lệ phí. Đơn vị thu phí, lệ phí được cấp một mã số thuế để dùng chung cho việc kê khai nộp phí, lệ phí và kê khai nộp thuế đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ (nếu có).

2.11. Đối với một số ngành, nghề đặc biệt do các Bộ, ngành cấp giấy phép hoạt động (như tín dụng, luật sư, dầu khí, bảo hiểm, y tế) thì sử dụng giấy phép này thay cho Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh trong hồ sơ đăng ký thuế.

Người nộp thuế không cần đóng dấu vào tờ khai đăng ký thuế để có thể đồng thời vừa thực hiện thủ tục đăng ký thuế, vừa thực hiện thủ tục khắc dấu.

3. Cung cấp mẫu tờ khai đăng ký thuế, nhận mã số thuế

Người nộp thuế có thể nhận mẫu tờ khai đăng ký thuế tại các cơ quan Thuế gần nhất hoặc bản sao mẫu kèm Thông tư này hoặc in mẫu tờ khai đăng ký thuế trên trang tin điện tử của Tổng cục Thuế . Người nộp thuế có nhu cầu có thể đến bất kỳ cơ quan thuế nào để được cơ quan Thuế hướng dẫn việc kê khai các chỉ tiêu trong hồ sơ đăng ký thuế.

4. Địa điểm nộp hồ sơ đăng ký thuế (đăng ký mã số thuế):

- Doanh nghiệp, đơn vị, tổ chức sản xuất kinh doanh và dịch vụ nộp hồ sơ đăng ký thuế tại Cục thuế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (dưới đây gọi tắt là tỉnh) nơi doanh nghiệp, đơn vị, tổ chức đóng trụ sở chính (đăng ký mã số thuế công ty)

- Đơn vị trực thuộc của doanh nghiệp, đơn vị, tổ chức nộp hồ sơ đăng ký thuế tại Cục thuế tỉnh nơi đơn vị trực thuộc đóng trụ sở chính (đăng ký mã số thuế công ty)

- Tổ chức, cá nhân có trách nhiệm khấu trừ và nộp thay thuế đăng ký thuế tại cơ quan quản lý thuế nơi tổ chức, cá nhân đó có trụ sở. Riêng đối với cá nhân nộp thuế thu nhập thông qua cơ quan chi trả thu nhập thì nộp tờ khai đăng ký thuế tại cơ quan chi trả thu nhập; cơ quan chi trả thu nhập tổng hợp tờ khai đăng ký thuế của từng cá nhân để nộp cho cơ quan Thuế trực tiếp quản lý thu thuế.

- Cá nhân nộp thuế thu nhập cao trực tiếp, không qua đơn vị chi trả thu nhập đăng ký thuế tại các cơ quan thuế nơi phát sinh thu nhập chịu thuế, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú hoặc nơi tạm trú.

- Hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ gia đình, cá nhân kinh doanh thực hiện đăng ký thuế tại Chi cục thuế quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.

5. Tiếp nhận hồ sơ đăng ký thuế (đăng ký mã số thuế).

Công chức thuế tiếp nhận và đóng dấu tiếp nhận hồ sơ đăng ký thuế, ghi rõ thời điểm nhận hồ sơ, số lượng tài liệu theo bản kê danh mục hồ sơ đăng ký thuế đối với trường hợp hồ sơ đăng ký thuế nộp trực tiếp tại cơ quan thuế. Công chức thuế viết phiếu hẹn ngày trả kết quả đăng ký thuế, thời hạn trả kết quả không được quá số ngày quy định của thông tư này.

Trường hợp hồ sơ đăng ký thuế gửi bằng đường bưu chính, công chức thuế đóng dấu ghi ngày nhận hồ sơ và ghi sổ văn thư của cơ quan thuế.

Trường hợp đăng ký thuế điện tử, việc tiếp nhận, kiểm tra, chấp nhận hồ sơ đăng ký thuế được thực hiện thông qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử của cơ quan thuế.

Công chức thuế kiểm tra hồ sơ đăng ký thuế, trường hợp cần bổ sung hồ sơ, cơ quan thuế thông báo cho người nộp hồ sơ trong ngày nhận hồ sơ đối với trực tiếp nhận hồ sơ, trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ theo đường bưu chính hoặc giao dịch điện tử.

Tại địa phương đã thực hiện Thông tư liên tịch về giải quyết hồ sơ đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và cấp phép khắc dấu theo cơ chế liên thông "một cửa" thì thực hiện thủ tục hồ sơ đăng ký thuế, địa điểm tiếp nhận hồ sơ thuế theo quy định liên thông này.

Kết quả thủ tục hành chính cá nhân, tổ chức được cấp mã số thuế.

 

Theo Tạp Chí Thuế

Nguồn :Các thủ tục đăng ký mã số thuế

Xem thêm :

Thứ Tư, 27 tháng 4, 2011

Nộp thuế thu nhập doanh nghiệp (Nộp thuế TNDN)

Doanh nghiệp nộp thuế thu nhập doanh nghiệp (nộp thuế TNDN) tại nơi có trụ sở chính. Trường hợp doanh nghiệp có cơ sở sản xuất hạch toán phụ thuộc hoạt động tại địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác với địa bàn nơi doanh nghiệp có trụ sở chính thì số thuế thu nhập doanh nghiệp được tính nộp theo tỷ lệ chi phí giữa nơi có cơ sở sản xuất và nơi có trụ sở chính. Việc phân cấp, quản lý, sử dụng nguồn thu được thực hiện theo quy định của Luật ngân sách nhà nước.

Cơ sở kinh doanh phải tạm nộp số thuế TNDN hàng quý theo Tờ khai thuế thu nhập doanh nghiệp hoặc theo số thuế cơ quan thuế ấn định đầy đủ, đúng hạn vào Ngân sách nhà nước chậm nhất không quá ngày cuối cùng của tháng cuối quý.

Việc xác định ngày nộp thuế thu nhập doanh nghiệp của cơ sở kinh doanh được thực hiện như sau:

- Đối với cơ sở kinh doanh nộp thuế thu nhập doanh nghiệp (nộp thuế TNDN) bằng chuyển khoản qua Ngân hàng, tổ chức tín dụng khác thì ngày nộp thuế TNDN là ngày Ngân hàng, tổ chức tín dụng khác ký nhận trên Giấy nộp tiền vào ngân sách;

- Đối với cơ sở kinh doanh nộp thuế thu nhập doanh nghiệp (nộp thuế TNDN) bằng tiền mặt thì ngày nộp thuế là ngày cơ quan Kho bạc nhận tiền thuế hoặc cơ quan thuế cấp Biên lai thuế.

Cách kê khai để nộp thuế thu nhập doanh nghiệp (nộp thuế TNDN):

- Cơ sở kinh doanh có trách nhiệm kê khai và nộp tờ khai thuế thu nhập doanh nghiệp theo mẫu số 02A/TNDN cho cơ quan thuế trực tiếp quản lý chậm nhất vào ngày 25 tháng 01 hàng năm hoặc ngày 25 của tháng kế tiếp tháng kết thúc kỳ tính thuế đối với cơ sở kinh doanh có kỳ tính thuế là năm tài chính khác năm dương lịch.

- Cách lập tờ khai thuế thu nhập doanh nghiệp

Căn cứ để kê khai là dựa vào kết quả sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ của năm trước trên sổ sách kế toán của doanh nghiệp và khả năng kinh doanh của năm tiếp theo.

Đối với cơ sở kinh doanh mới thành lập thì cơ sở kinh doanh tự xác định doanh thu, chi phí, thu nhập chịu thuế, số thuế phải nộp cả năm, số thuế phải nộp từng quý và chủ động kê khai với cơ quan thuế trong thời hạn chậm nhất không quá ngày 25 của tháng sau, kể từ tháng được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

- Điều chỉnh tờ khai tạm nộp thuế thu nhập doanh nghiệp

Đối với cơ sở kinh doanh mà kết quả sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ trong 6 tháng đầu năm có sự thay đổi lớn dẫn đến có thể tăng hoặc giảm trên 20% số thuế tạm nộp đã kê khai với cơ quan thuế thì cơ sở kinh doanh phải làm đầy đủ hồ sơ đề nghị điều chỉnh số thuế tạm nộp cả năm và số thuế tạm nộp của hai quý cuối năm gửi cơ quan thuế trực tiếp quản lý chậm nhất không quá ngày 30 tháng 07 hàng năm.

Hồ sơ đề nghị điều chỉnh số thuế tạm nộp cả năm và từng quý gồm có:

+ Công văn đề nghị điều chỉnh số thuế tạm nộp cả năm trong đó nêu rõ lý do xin điều chỉnh, số thuế đã tạm nộp 6 tháng đầu năm và số thuế còn phải nộp 6 tháng cuối năm.

+ Báo cáo tài chính 6 tháng đầu năm gồm: Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, bản thuyết minh báo cáo tài chính theo mẫu quy định của pháp luật về kế toán.

Sau khi xem xét hồ sơ đề nghị của cơ sở kinh doanh, cơ quan thuế trực tiếp quản lý có thông báo cho cơ sở kinh doanh số thuế tạm nộp cả năm đã điều chỉnh lại và số thuế còn phải nộp trong 2 quý cuối năm hoặc lý do không chấp nhận đề nghị của doanh nghiệp chậm nhất là ngày 25 tháng 08 của năm.

- Biện pháp chế tài đối với cơ sở kinh doanh không lập và gửi tờ khai thuế thu nhập doanh nghiệp

Cơ sở kinh doanh không gửi tờ khai thuế thu nhập doanh nghiệp thì cơ quan thuế có thông báo nhắc nhở cơ sở kinh doanh nộp tờ khai thuế. Nếu hết ngày 25 tháng 03 mà cơ sở kinh doanh vẫn chưa nộp tờ khai thuế thì cơ quan thuế ấn định số thuế tạm nộp cả năm, từng quý theo hướng dẫn tại điểm 2 mục này và thông báo để cơ sở kinh doanh thực hiện.

Theo Tạp Chí Thuế

Nguồn : Nộp thuế thu nhập doanh nghiệp (Nộp thuế TNDN)

Xem thêm:

- Kế toán thuế

Kế toán tiền lương

- Kế toán chi

- Phần mềm kế toán

Thứ Sáu, 28 tháng 1, 2011

Interpol đến Việt Nam bàn chuyện chống buôn bán hổ trái phép

Hôm nay 2/12, tại Hà Nội, Đại diện một số tổ chức, hiệp ước quốc tế và các cơ quan thực thi pháp luật của Việt Nam đã phối hợp tổ chức hai ngày hội thảo " Tăng cường các cơ chế quốc tế trong đấu tranh chống buôn bán trái phép hổ và các loài hoang dã khác".

Đại diện từ các tổ chức quốc tế lớn như Cảnh sát quốc tế (INTERPOL), Cơ quan phòng chống ma túy và tội phạm của Liên Hiệp Quốc (UNODC), Ban Thư ký CITES quốc tế, Tổ chức Hải Quan Thế giới (WCO), Mạng lưới Thực thi Pháp luật về loài hoang dã ASEAN (ASEAN-WEN), Cơ quan Quản lý Vườn quốc gia Nam Phi, Tổ chức TRAFFIC - Chương trình tiểu vùng Sông Mê Kông, Hiệp hội bảo tồn loài hoang dã thế giới (WCS) sẽ họp cùng gần 30 đại diện từ các cơ quan thực thi pháp luật cấp Trung ương và một số tỉnh giáp biên giới của Việt Nam.

Các đại biểu tham gia hội thảo
Các đại biểu tham gia hội thảo

Hội thảo nhằm chia xẻ kinh nghiệm và tăng cường các mối quan hệ hợp tác trong lĩnh vực kiểm soát buôn bán các mẫu vật động vật, thực vật hoang dã trái phép xuyên biên giới.

Các cuộc thảo luận sẽ xoay quanh những biện pháp nhằm tăng cường hiệu quả thực thi pháp luật trong lĩnh vực kiểm soát buôn bán động vật, thực vật hoang dã qua biên giới, đồng thời tham khảo ý kiến của các chuyên gia thực thi pháp luật về phòng chống các tội phạm quốc tế khác mà có liên quan tới buôn bán loài hoang dã trái phép như buôn bán ma túy và buôn người trên phạm vi toàn thế giới.

Tăng cường đấu tranh chống buôn bán Hổ là
Hội thảo sẽ tập trung vào nạn buôn bán trái phép Hổ

Hội thảo cũng là cơ hội để các cơ quan thực thi pháp luật của Việt Nam và quốc tế trao đổi về những khó khăn và giải pháp trong công cuộc đấu tranh chống nạn buôn bán động thực vật hoang dã trái phép, hướng đến mục tiêu tăng cường các cơ chế hiện có nhằm kiểm soát hiệu quả hơn các hoạt động buôn bán trái phép loài hoang dã xuyên biên giới.

 

CITES (Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp) là thỏa thuận đa phương chủ yếu để kiểm soát việc buôn bán quốc tế các loài động thực vật hoang dã trên toàn thế giới.

Tiến sĩ Hà Công Tuấn, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp, cho biết: "Hội thảo này là một cơ hội tốt để các cơ quan thực thi pháp luật của Việt Nam và các Tổ chức quốc tế chia xẻ kinh nghiệm và tăng cường phối hợp các nỗ lực nhằm đấu tranh chống nạn buôn bán trái phép mẫu vật động vật, thực vật hoang dã trên phạm vi toàn cầu trong khuôn khổ thực thi các hoạt động của ASEAN-WEN và CITES."



Tùng Anh

Nước Việt Nam những năm chống Pháp

Năm 1857 chính phủ Pháp thông qua quyết định đánh chiếm Việt Nam. Nhưng do sự đánh trả quyết liệt của những người yêu nước Việt Nam, phải sau 30 năm, thực dân Pháp mới thiết lập được quyền thống trị của họ trên toàn lãnh thổ Việt Nam (1887).

Nhà Nguyễn (1802-1945), trải qua 13 đời vua

Triều Tây Sơn tồn tại được 25 năm (1778 - 1802) trải qua 3 đời vua bao gồm : Thái đức Hoàng đế - Nguyễn Huệ (1789 - 1792 ) và cảnh thịnh Hoàng đế (1793 - 1802 )
Từ đầu thời đại đồng thau, các bộ lạc người Việt đã định cư chắc chắn ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ. Bấy giờ có khoảng 15 bộ lạc Lạc Việt sống chủ yếu ở miền trung du và đồng bằng Bắc Bộ, hàng chục bộ lạc Âu Việt sống chủ yếu ở miền Việt Bắc. Tại nhiều nơi, người Lạc Việt và người Âu Việt sống xen kẽ với nhau, bên cạnh các thành phần dân cư khác

Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời

Chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc, phát xít Nhật đầu hàng, nhân dân Việt Nam đã tiến hành thắng lợi cuộc cách mạng Tháng Tám năm 1945. Ngày 02/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Tuyên ngôn độc lập ở quảng trường Ba Ðình (Hà Nội), khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.

Ngay sau khi cách mạng Tháng Tám thành công, nhân dân Việt Nam đã phải đương đầu với những âm mưu và hành động xâm lược của nhiều kẻ thù bên ngoài. Năm 1946, thực dân Pháp đã trở lại xâm lược Ðông Dương. Nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Ðông Dương (tên của Ðảng Cộng Sản Việt Nam thời đó) và Chủ tịch Hồ Chí Minh tiến hành cuộc kháng chiến, bảo vệ nền độc lập của mình. Chiến thắng Ðiện Biên Phủ lịch sử đã kết thúc cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ lần thứ nhất của nhân dân Việt Nam. Với Hiệp định Genève (1954), độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam đã được thế giới chính thức thừa nhận.

Sau khi Thực dân Pháp rút khỏi miền Bắc, nước Việt Nam vẫn bị chia cắt làm hai miền. Miền Bắc (từ vĩ tuyến 17 trở ra) là nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, bắt đầu công cuộc xây dựng đất nước. ở miền Nam, từ vĩ tuyến 17 trở vào gọi là Việt Nam Cộng hoà, vẫn diễn ra cuộc chiến tranh giữa một bên là nhân dân miền Nam và một bên là chính quyền Sài Gòn và quân đội Mỹ. Nhân dân Việt Nam một lần nữa phải chịu đựng một cuộc chiến tranh ác liệt trong gần 20 năm để giành lại độc lập dân tộc. Sau hiệp định Pari (1973), quân đội Mỹ rút khỏi Việt Nam. Với chiến thắng mùa Xuân 1975 mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, ngày 30 tháng 4 năm 1975, chính quyền Sài Gòn sụp đổ. Ðất nước Việt Nam hoàn toàn thống nhất, lấy tên là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thủ đô là Hà Nội. Dân tộc Việt Nam bắt tay vào khắc phục những hậu quả nặng nề của 30 năm chiến tranh, xây dựng lại đất nước. Ngày nay, dân tộc Việt Nam đang bước vào kỷ nguyên mới xây dựng và phát triển kinh tế, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh.

Nguồn: Tổng cục du lịch

Bạn có biết ?

  • Sáng ngày 26 tháng 8 năm 1945, tại ngôi nhà số 48 Hàng Ngang, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã triệu tập và chủ trì cuộc họp của Thường vụ Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam. Thường vụ nhất trí chuẩn bị Tuyên ngôn độc lập và tổ chức mít tinh lớn ở Hà Nội để Chính phủ Lâm thời ra mắt nhân dân, cũng là ngày nước Việt Nam chính thức công bố quyền độc lập và thiết lập chính thể dân chủ cộng hòa.
  • Ngày 30 tháng 8 năm 1945, Hồ Chí Minh mời một số người đến góp ý cho bản Tuyên ngôn độc lập do Người soạn thảo.
  • Ngày 31 tháng 8 năm 1945, Hồ Chí Minh bổ sung thêm cho dự thảo Tuyên ngôn độc lập.
  • Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập tại quảng trường Ba Đình, Hà Nội, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.